Chiến dịch tổn thất nhiều nhất trong lịch sử Không quân Hoa Kỳ
Khi bước vào chiến tranh trên không ở miền Bắc Việt Nam, các đơn vị Không quân và Hải quân Mỹ đã có trong đội hình của mình các loại máy bay tiêm kích vượt âm thanh như F-100, F-111, F-4, F-8, các máy bay cường kích có thể mang bom hạt nhân như F-105, máy bay ném bom chiến lược B-52, các máy bay F-111 cánh cụp cánh xoè, các máy bay trinh sát và tác chiến điện tử, chiến thuật và trực thăng làm nhiệm vụ yểm trợ, thả nhiễu, tìm cứu, tiếp dầu trên không… Các máy bay tiêm kích và cường kích của Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam bao gồm tất cả các loại hiện đại nhất mà Không quân và Hải quân Mỹ có trong biên chế.
Các phi công Mỹ có số giờ bay vượt trội, một số chỉ huy các đơn vị không quân cấp chiến dịch (các phi đoàn và không đoàn) khi xuất kích đánh phá các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam và không chiến với các phi công Bắc Việt Nam đã có hàng ngàn giờ bay. Riêng các phi công F-8 của hải quân nổi tiếng là có kỹ thuật bay và không chiến tốt nhất trong Không quân Mỹ.

Phi công Phan Văn Túc đã hạ chiếc F-8 đầu tiên ngày 3.4.1965
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, tháng 8.1964, Không quân Mỹ đã lập kế hoạch dài hạn huỷ diệt tiềm lực kinh tế – quốc phòng của miền Bắc Việt Nam bằng cách huy động các máy bay của hải quân cất cánh từ các tàu sân bay và các phi đoàn của không quân không kích các mục tiêu ven biển từ Quảng Ninh vào đến vĩ tuyến 17.
Chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder) là chiến dịch dài nhất (từ 2.3.1965 tới 1.11.1968), cường độ xuất kích rất lớn (trên 1 triệu lần) và thả lượng bom đạn lớn nhất trong lịch sử không chiến hiện đại, đồng thời cũng là chiến dịch tổn thất nhiều máy bay nhất, tồi tệ và kém hiệu quả nhất trong lịch sử Không quân Mỹ. Tuy nhiên, giai đoại đầu năm 1965, các máy bay của Mỹ chỉ phải đối đầu với lực lượng Phòng không Việt Nam chủ yếu là pháo cao xạ, các vũ khí phòng không tầm thấp. Cho đến trước ngày 3.4.1965, các phi công Mỹ vẫn chưa gặp phải đối thủ trên không của mình. .
Phi công Trần Hanh sau trận đánh lập công hạ chiếc F-105D đầu tiên ngày 4.4.1965. Cạnh Hanh là Phạm Ngọc Lan, phi công đã hạ chiếc F-8 ngày hôm trước.

Khi lực lượng Không quân Việt Nam với các biên đội MiG-17 của Trung đoàn 921 chính thức mở mặt trận trên không (3.4.1965) và các biên đội MiG-17 từ Trung đoàn 923 (9.1965), sau đó được bổ sung các biên đội MiG-21 (1.1966), các trận không chiến ác liệt đã diễn ra trên khắp bầu trời Thanh Hoá, Hải Phòng, Hà Nội, Thái Nguyên ròng rã hơn 3 năm. Từ tháng 8.1964 đến 10.1968 Không quân Việt Nam ghi nhận bắn rơi 195 chiếc máy bay Mỹ và bị rơi 85 chiếc MiG (tỷ lệ 2,2/1), theo các nhà phân tích và nghiên cứu lịch sử Không quân Mỹ, thì đây là một tỷ lệ đáng buồn nhất trong tất cả các cuộc chiến trên không mà Mỹ đã tham gia (trong chiến tranh Triều Tiên tỷ lệ là 10/1, trong chiến tranh Trung Đông là 50/1). Một báo cáo của CIA cho thấy Chiến dịch Rolling Thunder không hiệu quả do không làm suy yếu được kinh tế miền Bắc. Ngày 31.10.1968 kết thúc Chiến dịch, Tổng thống Mỹ tuyên bố tạm ngừng ném bom miền Bắc. Hơn 2.200 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi cho đến thời điểm này.

Phi công Phan Văn Túc.
Để tăng cường lực lượng, mở thêm mặt trận trên không, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, Bộ Quốc phòng quyết định gấp rút đưa Trung đoàn Không quân 921 trở về tham gia chiến đấu. Sáng sớm ngày 6.8.1964, từ sân bay Mông Tự (Trung Quốc) hơn 30 chiếc MiG-17 xếp hàng chỉnh tể, nổ máy cất cánh theo từng biên đội 4 chiếc, với đầy đủ cơ số đạn, sẵn sàng chiến đấu, hướng về Hà Nội. Biên đội đầu tiên do Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện bay số 1, bay số 2 là Chủ nhiệm dẫn đường Phạm Ngọc Lan, bay số 3 là phi công Trung Quốc Tào Song Minh (sau này là Thượng tướng – Tư lệnh Không quân Trung Quốc giai đoạn 1992-1994), bay số 4 là chủ nhiệm xạ kích Lâm Văn Lích. Về đến Nội Bài, số 1 Đào Đình Luyện dẫn đội bay thông trường một vòng, nghiêng cánh chào đất mẹ Tổ quốc; số 2 Phạm Ngọc Lan vinh dự là người đầu tiên hạ cánh, sau đó lần lượt toàn bộ các máy bay của Trung đoàn hạ cánh xuống sân bay. Đó là giây phút lịch sử, khi Quân đội nhân dân Việt Nam có thêm trong đội hình của mình các chiến sĩ của một Binh chủng Không quân mới và hiện đại, khi các “cánh én” đã tề chỉnh, đội hình sẵn sàng cất cánh bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
Phi công Lâm Văn Lích trong đội hình MiG-17 đầu tiên trở về Việt Nam ngày 6.8.1964 – một thời khắc lịch sử

Với thắng lợi liên tiếp trong ngày đầu mở mặt trận trên không, Phạm Ngọc Lan và Phan Văn Túc hạ 2 chiếc F-8 ngay trong trận đầu ngày 3.4.1965 và 4.4.1965 Trần Hanh cùng Lê Minh Huân bắn rơi tiếp 2 chiếc F-105D Thần Sấm, các biên đội MiG-17 của Trung đoàn 921 đã cản phá thành công các đợt tấn công của Không quân Mỹ vào các mục tiêu quanh cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá).

Phi đội 3 thuộc Trung đoàn 921 được Chủ tịch nước tặng cờ chiến thắng và danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVTND năm 1969. (Từ trên xuống, trái qua) Nguyễn Văn Lung, Bùi Đức Nhu, Đồng Văn Song, Nguyễn Tiến Sâm, Lê Toàn Thắng, Nguyễn Ngọc Hưng, Trần Việt, Phạm Đình Tuân, Ngô Văn Phú, Nguyễn Văn Nghĩa, Trần Hanh, Nguyễn Đức Soát, Vũ Ngọc Đỉnh, Vũ Văn Ngữ, Chu Duy Kính (chính uỷ), Lương Thế Phúc, Võ Sĩ An (chính trị viên).
Hai trận chiến thắng đầu tiên của Không quân Việt Nam đã gây tiếng vang lớn trên thế giới. Việc máy bay phản lực siêu âm F-105 bị MiG-17 lạc hậu hơn đến hai thế hệ dùng súng Cannon bắn hạ khiến Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ phải đau đầu tìm kiếm cách thức để đối phó. Sau giai đoạn đầu của Chiến dịch Sấm Rền, Không quân và Hải quân Mỹ rút ra kết luận là để không chiến thành công với các phi công miền Bắc Việt Nam rất nhanh nhẹn và đánh quần giỏi thì cần đào tạo bổ sung về kỹ thuật không chiến cho phi công Mỹ. Hải quân Mỹ lập ra chương trình Top Gun (sau đó Không quân Mỹ cũng triển khai chương trình Red Flag) đào tạo kỹ thuật cơ động trong không chiến và các lý thuyết chiến thuật cho các phi công Mỹ trước khi họ được điều đến các đơn vị thực hiện các phi vụ không chiến ở miền Bắc Việt Nam.
(Trích trong “Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam”
của nhóm tác giả Nguyễn Sỹ Hưng – Nguyễn Nam Liên)
. . .